Chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn

19:33 |
Đây là một trong một số nội dung đáng lưu ý của Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP (hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình số 52/2014/QH13) có hiệu lực tính từ ngày 1-3-2016.
Nếu không có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng hay văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị tòa án nhân dân tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì TA áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi chia tay. Khi đ, tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi tuy vậy có tính đến một vài yếu tố sau đây để xác định tỉ lệ tài sản mà vợ chồng được chia khi chia tài sản khi ly hôn. Gồm có:




1. Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng: là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly dị của vợ, chồng cũng như của một số thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Bên gặp khó khăn hơn sau khi li hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên còn lại hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ dù thế phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng;
2. Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển số tài sản chung: là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển số tài sản chung. Người vợ hay chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hay vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn;
3. Bảo vệ lợi ích chính đáng của từng bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để 2 bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập: là việc chia tài sản chung của vợ chồng khi làm thu tuc ly hon phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch. Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của từng bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên tuy vậy mất năng lực hành vi dân sự;
4. Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng: là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn tới ly hôn.
Để được tư vấn cụ thể và chi tiết hơn bạn có thể liên hệ tới Hotline 0965 15 13 11

Oceanlaw tư vấn chia tài sản khi ly hôn

20:15 |
Bất kể là vụ án dân sự (đơn phương ly hôn) hay vụ án dân sự (thuận tình ly hôn) thì vấn đề chia tài sản cũng luôn được đặt ra. Cùng với 3 vấn đề khác là quan hệ pháp lý về hôn nhân, quan hệ pháp lý về nuôi con và quan hệ pháp lý về cấp dưỡng thì quan hệ pháp lý về tài sản là một trong 4 quan hệ pháp lý luôn phức tạp nhất.

Phân chia tài sản sau khi li hôn
Xét tính chất, mức độ phức tạp trường hợp trường hợp li dị đồng thuận có phần nhẹ hơn bởi hai bên thỏa thuận về việc phân chia tài sản vợ chồng trước, trong hoặc sau khi li hôn một cách hòa bình. Mặc dù thế việc phân chia đâu là tài sản chung (bao gồm tài sản có và tài sản nợ), đâu là tài sản riêng và tài sản chung thì phân chia như thế nào cho đúng cả về pháp lý và đạo lý, đảm bảo công bằng cho mỗi bên cũng còn nhiều điều phải bàn.
Khi ly hôn đơn phương thì vấn đề chia tài sản khi ly dị là một vấn đề “nóng bỏng nhất”. Vì 1 nguyên tắc của tranh chấp là hai bên đều muốn giành phần hơn về mình, các đương sự không phải ai cũng hiểu rằng tất cả tài sản “phát sinh” trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung khi một trong 2 bên có yêu cầu chia bất kể là khi li hôn hay không li dị hoặc sau khi li dị thì về nguyên tắc tài sản đó sẽ được chia đôi “của chồng công vợ”. Tuy thế khi xét xử Tòa án phải căn cứ trên công sức đóng góp của mỗi bên và phải tính đến quyền ưu tiên đối với phụ nữ, trẻ em. Xuất phát từ “lòng tham”, sự “hơn thua” của các đương sự dẫn tới những hành vi phức tạp như “tẩu tán tài sản chung”; xuất hiện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan một cách quyết liệt, thậm chí để lại các hậu quả vô cùng đáng tiếc đó là nguyên nhân dẫn đến bất công và lý giải vì sao ly dị không phải là kết thúc.
Để hạn chế một vài sai lầm đáng tiếc không thể khắc phục, các luật sư Công ty luật Oceanlaw đã tư vấn và trợ giúp pháp lý cho hàng vạn khách hàng mỗi năm mang tới sự bình an và đảm bảo công bằng cho khách hàng của mình trong nhiều năm qua. Việc điều tra, truy tìm, xác minh khi chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, khi ly dị hoặc sau khili hôn đều được các luật sư, cộng sự, chuyên gia pháp lý và một số đối tác chiến lược khác của Luật Thái An am tường về lĩnh vực Hôn nhân gia đình giải quyết thấu tình, đạt lý không chỉ mang lại sự hài lòng cho chính khách hàng của mình.
Hãy liên hệ tới hotline 0965 15 13 11 để được tư vấn chia tài sản khi ly hôn trực tiếp và miễn phí.

Nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn như thế nào?

20:45 |
Sau khi lấy nhau, bố mẹ chồng bà Ngô tặng vợ chồng bà một mảnh đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chồng bà. Bà và chồng có 2 con chung, một con đã có gia đình và ở riêng, 1 con hiện đang chung sống cùng vợ chồng bà. Vậy, nếu vợ chồng bà ly hôn thì tài sản nhà đất được  chia như thế nào?




Nguyên tắc phân chia tài sản khi ly hôn
Theo quy định, vấn đề phân chia tài sản khi ly hôn do 2 người thoả thuận, nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của người đó.
Việc phân chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc sau:
- Tài sản chung của 2 người về nguyên tắc được phân chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi người, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của từng người vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được xem như lao động có thu nhập.
- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
- Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các người có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập.
- Tài sản chung của vợ chồng được phân chia bằng hiện vật hoặc theo  giá trị, người nào nhận phần tài sản bằng  hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được nhận thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.
Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Tòa án nhân dân xử lý.
Trường hợp trên, khi sự việc đúng như bà trình bày là sau khi đăng ký kết hôn, bố mẹ chồng của bà tặng cho chung vợ chồng bà một khu đất, mặc dù vậy chỉ đăng ký đứng tên chồng bà trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. khi việc đăng ký đó tiến hành trước ngày 18/10/2001, mà vợ chồng không yêu cầu cấp lại để đứng tên cả vợ chồng, thì khu đất đó vẫn thuộc quyền sử dụng chung của vợ chồng.
Khi li dị, khi có tranh giành là tài sản riêng thì người chồng có tên trong giấy chứng nhận phải chứng minh được tài sản này do được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân hay tài sản này có được từ nguồn tài sản riêng. Khi người chồng không chứng minh được tài sản đang có tranh chấp này là tài sản riêng, thì tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng. Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng, trong đó có quyền sử dụng đất ở, sở hữu nhà ở khi ly hôn thực hiện theo nguyên tắc phân chia mặc dù thế có xem xét hoàn cảnh của mỗi người, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này.
Nếu người chồng có chứng cứ hợp pháp chứng minh được quyền sử dụng đất ở, quyền sở hữu nhà ở mà ông đứng tên trong giấy chứng nhận là tài sản riêng, thì khi li dị quyền sử dụng đất, sở hữu nhà đó thuộc về người chồng. Theo Điều 99 Luật HNGĐ trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của người chồng đã được đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn, nhà ở đó vẫn thuộc sở hữu riêng của người chồng, nhưng phải thanh toán cho người vợ một phần giá trị nhà, căn cứ vào công sức bảo dưỡng, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa nhà.
Khi li dị, khi hai người không thỏa thuận được việc chia tài sản, yêu cầu TAND xử lý thì mỗi bên cần giao nộp cho Tòa án nhân dân chứng cứ chứng minh về tài sản chung, tài sản riêng. TAND sẽ đánh giá chứng cứ để phân phân chia theo quy định của luật pháp.
Để được tư vấn cụ thể và chi tiết hãy gọi điện tới Hotline 0965 15 13 11

Góp tiền sửa nhà, ly hôn có được chia một phần ngôi nhà không?

20:31 |
Hai vợ chồng tôi đang ở chung ngôi nhà của bố mẹ chồng. Lúc tới ở, nhà cũ kĩ, trong thời gian sống ở đây chúng tôi đã tu sửa nhiều cho khang trang. Cuộc sống của hai vợ chồng không hào hợp nên tôi muốn ly hôn, tuy nhiên tôi có thắc mắc là khi toi ly hôn thì tôi có quyền được chia 1 phần ngôi nhà này?

Hoàng Thị Mai ( Hà Nam)



Trả lời:
Nhà ở và đất được coi là bất động sản, việc chuyển dịch quyền sở hữu bất động sản trong các trường hợp phải được lập bằng văn bản đồng thời phải được đăng ký quyền sở hữu ở cơ quan có thẩm quyền. Thông tin chị cung cấp chưa đầy đủ, vì thế Luật sư giả định trong trường hợp này toàn bộ giấy tờ pháp lý của ngôi nhà vẫn đứng tên bố mẹ chồng của chị.
Theo  Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (Luật HNGĐ) quy định về vấn đề tài sản chung của vợ chồng như sau: 
“Tài sản chung của vợ chồng gồm có tài sản được vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ những trường hợp được quy định tại Khoản 1, Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hay được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung”.
Đối chiếu với quy định này trong trường hợp của chị thì tài sản đó được xem là tài sản chung do công sức của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân tạo ra.
Tuy nhiên, pháp luật xác lập và công nhận ngôi nhà này thuộc quyền sở hữu của bố mẹ chồng mà chị sống chung với gia đình nhà chồng vì thế việc phân chia tài sản này khi ly hôn tuân theo Luật HNGĐ, theo đó:
1. Đối với trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, vì tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hay chồng được chia 1 phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng trong việc tạo lập, duy trì, phát triển số tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia 1 phần trong khối tài sản chung được vợ chồng thỏa thuận với gia đình; khi không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết.
2. Đối với trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể được xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này”.
Nếu không thể tự thỏa thuận được với gia đình bên chồng về việc phân chia tài sản sau ly hôn thì chị có thể nhờ Luật sư bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho chị tại tòa án.     

Chia tài sản như thế nào khi không đăng ký kết hôn?

23:40 |
Câu hỏi: Năm 2013, vợ chồng tôi có tổ chức đám cưới tuy nhiên chưa đăng ký kết hôn. Vài tháng gần đây, vợ chồng tôi thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và quyết định ly hôn. Xin luật sư cho biết, không đăng ký kết hôn thì thủ tục ly hôn và chia tài sản của vợ chồng tôi được giải quyết như thế nào? Tôi muốn nhận nuôi con có được không? Anh Tuấn (Hà Nam)


Trả lời:
Trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có quy định việc kết hôn phải được đăng ký và được cơ quan đăng ký kết hôn thực hiện theo nghi thức đã được quy định, mọi nghi thức kết hôn không theo quy định của luật này đều không có giá trị về mặt pháp lý. Trường hợp muốn chấm dứt quan hệ “nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không làm thủ tục đăng ký kết hôn”, 1 trong 2 bên có thể yêu cầu toà án giải quyết.
Về giải quyết trường hợp chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, tại điểm c khoản 3 Nghị quyết về thi hành Luật Hôn nhân và gia đình số 35/2000/NQ-QH10 quy định:
“Kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2001 trở đi, trừ những trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 của nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là có quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu ly hôn thì toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; khi có yêu cầu về con và tài sản thì toà án áp dụng khoản 2 và khoản 3 điều 17 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 để giải quyết.”
Căn cứ vào đó, tài sản của 2 bạn sẽ được chia như sau: Tài sản riêng của ai thì thuộc về người đó, tài sản chung được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được, tòa án sẽ chia trên cơ sở có tính đến công sức đóng góp của từng bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và trẻ nhỏ.
Về vấn đề quyền nuôi con sau ly hôn, bạn có thể thỏa thuận với chồng rằng bạn là người trực tiếp nuôi con, khi chồng không đồng ý thì đưa ra tòa giải quyết. Tòa án sẽ xem xét, cân nhắc tới điều kiện của hai bên trên cơ sở đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con. Về nguyên tắc, con dưới 3 tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, nếu hai bên không có thoả thuận khác. Người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi con đủ 18 tuổi.

Quyền về tài sản khi ly thân có khác khi còn chung sống

01:24 |


Những quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong thời gian ly thân không khác biệt lắm so với thời gian còn chung sống.
Ly thân là hiện tượng khá phổ biến hiện nay trong đời sống xã hội tuy vậy vẫn chưa được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, thời gian ly thân vẫn được xác định là trong thời kỳ hôn nhân (là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân).


Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình quy định tài sản chung của vợ chồng gồm những tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và các thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Tài sản vợ chồng được thừa kế chung hay được tặng cho chung và một số tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng đạt được thỏa thuận.

Pháp luật về hôn nhân và gia đình cũng đã quy định việc chia tài sản sau ly hôn trong thời kỳ hôn nhân. Căn cứ vào đó, với trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hay có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thoả thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải được lập thành văn bản. Kể từ thời điểm việc phân chia tài sản chung có hiệu lực thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người; phần tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng.

Do đó, với các quy định nêu trên thì nếu trước khi ly hôn đơn phương hay ly hôn thuận tình mà vợ chồng không có văn bản thỏa thuận rằng một số tài sản bạn tạo lập được trước thời kỳ hôn nhân là thuộc sở hữu riêng của bạn thì các tài sản đó vẫn được coi là chung của vợ chồng và người vợ có quyền yêu cầu tòa án chia theo quy định của pháp luật.

Bức tường ngăn cách tình cha con

01:30 |


Sau khi ly hôn, anh ở một phần của căn nhà, còn phía kia bức tường ngăn là người vợ và cô con gái nhỏ sống khép kín.
Anh là cán bộ làm công ăn lương trong nhà nước, quen chị khi đã ngoài 30 tuổi. Hai người kết hôn hơn 10 năm trước và có với nhau 1 cô con gái. Sau từng ấy thời gian, hạnh phúc dần rạn nứt, anh chị đưa nhau ra toà xin ly hôn. Anh cho rằng chị là người không biết vun vén cuộc sống gia đình, ngay cả khi bố chồng qua đời, hay dịp lễ Tết, chị đều không có mặt.
Tính đến tháng 7, anh chị đã 3 lần đưa nhau ra toà giải quyết việc ly hôn, phân chia tài sản sau ly hôn. Tới phiên phúc thẩm lần này ở TAND Hà Nội, gương mặt người đàn ông trung niên lộ rõ vẻ mệt mỏi. Còn người vợ, ngồi bên cạnh chồng cũ cũng giữ vẻ không vui vẻ gì.
Phiên phúc thẩm được mở ra bởi chị kháng cáo với bản án sơ thẩm của TAND qụân Hà Đông về  phán quyết chia căn nhà làm 2 phần không bằng nhau khiến người vợ phải thanh toán cho chồng khoản tiền chênh lệch trị giá hơn 300 triệu đồng. Chị cho biết, một mình nuôi con với nhiều khoản chi phí nên khó khăn, đề nghị toà cũng như chồng “giảm bớt” số tiền chênh lệch trên.

Theo bản án sơ thẩm, sau khi đăng ký kết hôn, anh được cơ quan cấp cho khu đất hơn 70m2. Hai vợ chồng chung tay xây được được căn nhà khang trang ở quận Hà Đông.
Trước khi diễn ra phiên xử vụ ly hôn, 2 người tự thoả thuận chia căn nhà trên với hơn 44 m2 chị và con sử dụng, còn anh nhận 27 m2. Sau khi nhận phần nhà, anh tu sửa, cải tạo lại buồng mái, nhà vệ sinh, cầu thang và ngăn cách với vợ cũ và con gái bằng một bức tường.
Thường ngày sống chung trong căn nhà tuy nhiên cha với con gái chỉ nhìn thấy nhau thoáng qua. Theo phán quyết của toà, hàng tháng anh vẫn gửi tiền để vợ cũ chăm sóc và nuôi dưỡng con gái. Mặc dù vậy, sau ly hôn, giữa 2 vợ chồng tiếp tục có những khúc mắc và mâu thuẫn xảy ra. Chị cho rằng chồng cũ gây khó dễ cho việc tách sổ đỏ.
Kiện ra toà dân sự quận Hà Đông, chị phải thực hiện theo phán quyết, thanh toán cho chồng cũ 360 triệu đồng tiền chênh lệch giá trị phần diện tích sử dụng nhiều hơn. Anh cho rằng, việc vợ cũ kiện, kháng cáo khiến bản thân mệt mỏi nên hy vọng phiên dân sự phúc thẩm sẽ là lần cuối cùng phải đưa nhau ra toà.
“Mỗi lần có giấy triệu tập tôi lại phải xin phép cơ quan nghỉ việc để giải quyết’, anh chia sẻ.  Do đó, tại phiên phúc thẩm, anh kiên quyết đề nghị chia đôi căn nhà theo quyết định của bản án sơ thẩm. Anh tâm sự rằng, số tiền đó cũng để cho con chứ không giữ lại cho bản thân.
Giọng mệt mỏi, anh trải lòng, ở phiên phúc thẩm có đồng ý với phương án hoán đổi phần diện tích sử dụng cho vợ và một số phương án khác như chị “cắt” lại 8m2 đất trả cho chồng, hay bán căn nhà rồi chia đôi. Song tại thời điểm đó, chị không đồng tình bởi cho rằng, bản thân cũng có quyền lợi sao không được nhận tiền khi hoán đổi.
Toà đã giải thích cho chị, căn nhà được xác định là tài sản chung tuy nhiên pháp luật cũng cần căn cứ vào công lao của người có đóng góp nhiều hơn. Anh là cán bộ được cấp đất tiêu chuẩn thì phải nhận phần hơn.
Giọng chìm xuống, anh bảo giá vợ cũ không vô tâm, bố chồng mất hoặc  các dịp lễ Tết có mặt đầy đủ thì không có mấy phiên xử “đau đầu, mệt óc”. Nghe chồng cũ nói vậy, ngồi bên cạnh, chị cũng chỉ im lặng.
Trong phần trình bày của mình, chị kể hoàn cảnh khó khăn nên mong được bớt số tiền phải thanh toán cho chồng cũ. Cùng lúc đó, một số người bạn của chị có mặt tại phòng xử nói vọng lên: “Xin anh giảm cho một ít”. Trước ý kiến của vợ cũ, anh đã đồng ý giảm 100 triệu đồng với yêu cầu: “Không được kiện cáo thêm để anh tập trung làm ăn”.
Trước thoả thuận của 2 bên, toà phúc thẩm đã ghi nhận, sửa một phần bản án, quyết định bà phải trả cho ông 260 triệu đồng.

Giải quyết tranh chấp đất khi ly hôn với người nước ngoài thế nào?

00:13 |


Chồng tôi là người nước ngoài. Bây giờ do mẫu thuẫn trong công việc và cuộc sống gia đình khiến chúng tôi đã ly hôn. Trước đây vợ chồng tôi đã cùng bỏ tiền ra đầu tư mua đất để mở công ty du lịch sinh thái biển khoảng 10.000 m2. Công ty này vẫn đang hoạt động bình thường và do tôi đứng tên và là chủ sở hữu.
Vậy sau khi làm thủ tục ly hôn tôi muốn giữ lại tất cả diện tích đất để công ty được tiếp tục hoạt động được không?
Sau khi Tòa sử Chia tai san sau ly hon theo luật hôn nhân, do tôi muốn giữ đất, tôi có thể đưa phần tiền giá trị 1/2 số tài sản và đất đai mà tòa đã định giá cho chồng tôi được không?
Hiện nay thì chồng tôi cũng đang muốn tranh chấp để lấy đất, vậy anh ấy có lấy đất được không? Tôi phải làm thế nào?


1. Đầu tiên, việc thực hiện thu tuc ly hon don phuong hay thuận tình giữa người Việt Nam với công dân nước ngoài, giữa công dân nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết theo Luật Hôn nhân và Gia đình.
Căn cứ vào đó, trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu (GCN) phải ghi tên của cả vợ chồng . Mặc dù vậy, nếu  tài sản được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân mà vì lý do nào đó chỉ 1 bên đứng tên, nếu không có tranh chấp tài sản thì tài sản đó vẫn là tài sản chung của vợ chồng . Nếu có tranh chấp tài sản thì người có tên trong GCN phải chứng minh tài sản đó là tài sản riêng, nếu không chứng minh được thì tài sản đó vẫn là được coi là tài sản chung.
Do đó, với trường hợp của chị, dù chồng chị không đứng tên trên GCN, tuy nhiên mảnh đất để thực hiện dự án du lịch sinh thái do công ty mà chị đứng tên vẫn được xem là tài sản chung của vợ chồng chị có trong thời kỳ hôn nhân (trừ khi chị chứng minh được đó là tài sản riêng của mình) và sẽ được chia theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
2. Việc tự thỏa thuận phân chia tài sản chung sau ly hôn là quyền của hai người, và nếu không thỏa thuận được hay có tranh chấp thì các bên có quyền đề nghị cơ quan Tòa án xem xét giải quyết.

Thông thường, khi có tranh chấp về tài sản chung, Tòa án sẽ xem xét những chứng cứ để giải thích, giúp cho đương sự hiểu rõ những quyền và nghĩa vụ liên quan. Nếu không hòa giải thành việc chia tài sản chung sau ly hôn được giải quyết theo những  nguyên tắc trong Luật Hôn nhân và Gia đình như sau:
- Tài sản chung của vợ chồng theo nguyên tắc thì chia đôi, tuy nhiên có xem xét hoàn cảnh của tùng bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của từng bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hay đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;
- Bảo vệ lợi ích chính đáng của từng bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để hai bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
- Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hay theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.
Dựa vào một số quy định nói trên, bây giờ chị đang có lợi thế về mặt pháp lý khi GCN và dự án du lịch sinh thái đều đứng tên chị. Mặc dù vậy, chị cần chú ý rằng, đây chỉ là lợi thế chứ không phải là yếu tố tiên quyết để cơ quan có thẩm quyền quyết định cho chị được quyền giữ lại toàn bộ tài sản nói trên.
Vì vậy, với trường hợp chị muốn giữ lại khối tài sản bằng cách thanh toán cho chồng chị nửa giá trị tài sản (bằng tiền), thì chị nên nêu ý kiến đề xuất này trực tiếp với chồng chị để hai bên có thể thỏa thuận, thương lượng hướng giải quyết vụ việc một cách nhanh nhất. Và chỉ có giải pháp hòa giải thành công mới giúp cho hai bên không tốn nhiều công sức, thời gian, của cải để giải quyết vụ việc.