Lập di chúc để lại tài sản

20:04 |
“Bố tôi muốn viết di chúc để lại toàn bộ phần đất của ông trong tổng số đất mà bố mẹ tôi đứng tên chung có được không?”.
Anh Nguyễn Văn Hiển ở Bắc Ninh có hỏi:  “Bố tôi đang mắc nặng, dù thế ông vẫn còn tỉnh táo và minh mẫn, hiện giờ ông muốn làm di chúc để lại cho tôi mảnh|khu|phần|khoảng} đất mà hiện giờ cả nhà tôi đang sống và đứng tên bố mẹ tôi. Về khu đất này thì nguồn gốc đất là của cơ quan mẹ tôi phân cho bà từ năm 1995.
Tuy thế vấn đề là bố tôi và mẹ tôi không có chứng nhận kết hôn mà chỉ về sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1992.
Bố tôi lại có 1 bà vợ cả có đăng ký kết hôn từ  năm 1978. Bà này với bố tôi không có con chung và bố mẹ tôi cũng chỉ có mình tôi là con.
Thưa luật sư tôi muốn hỏi bây giờ có cách nào tốt nhất để tôi được hưởng toàn bộ quyền sử dụng đất của bố tôi không?



Trường hợp của bạn luật sư tư vấn như sau:
Đầu tiên, theo quy định của luật hôn nhân gia đình năm 2014 và theo quy định của nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 về thực hiện Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì  với quan hệ vợ chồng của bố và mẹ bạn không được công nhận là hôn nhân thực tế. Bố mẹ bạn sống chung với nhau mà không đăng ký kết hôn sau năm 1987 vì thế quan hệ vợ chồng này không là quan hệ hợp pháp. Dù thế, theo như thông tin bạn chia sẻ thì mảnh đất hiện giờ bố mẹ bạn đang sinh sống tuy là đất của cơ quan phân cho mẹ bạn tuy nhiên khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất việc đưa tên bố bạn vào mẹ bạn đã không có ý kiến phản đối thì đất đó vẫn được xem là tài sản chung.
Thứ 2, người vợ cả của bố bạn là vợ hợp pháp có chứng nhận kết hôn vì vậy người vợ cả vẫn nằm trong hàng thừa kế thứ 1 xét về quan hệ thừa kế theo luật pháp và là người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định trong Điều 669 Bộ luật dân sự.
“Điều 669. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung bản di chúc
Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng 2 phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, trường hợp di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản nhỏ hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định trong khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:
    Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
    Con đã thành niên mà không có khả năng làm việc”
Với trường hợp này, bố bạn hoàn toàn có quyền định đoạt bằng di chúc tài sản của bố bạn trong khối tài sản chung với mẹ bạn mà không phải có sự đồng ý của bà cả. Dù vậy, bởi người vợ cả vẫn đang là vợ hợp pháp do vậy  giả thiết đặt ra trong di chúc bố bạn không cho bà vợ cả được hưởng thì bà vẫn được 2/3 của 1 suất thừa kế pheo pháp luật cứ Khoản 1, Điều 669, Bộ luật dân sự.
Chính vì vậy khi bố bạn lập di chúc để lại toàn bộ tài sản cho bạn thì trường hợp này bạn cũng không được hưởng toàn bộ tài sản như phân tích ở trên.
Vì vậy cách để đạt được mục đích như bạn yêu cầu thì bố bạn chính vì thế làm hợp đồng tặng cho tài sản. Bố bạn hiện nay vẫn còn sống và minh mẫn chính vì thế  việc làm hợp đồng tặng cho tài sản sẽ không gặp vấn đề gì trở ngại và cũng không phải có ý kiến của ai cũng như không bắt buộc phải để lại 1 phần tài sản cho bà cả.
Tuy thế  với hợp đồng tặng cho tài sản là bất động sản căn quy định của Điều 467 Bộ luật dân sự thì hợp đồng tặng cho tài sản phải được lập thành văn bản và phải được công chứng, chứng thực. Khi bố bạn gặp khó khăn trong việc đi lại thì gia đình bạn có thể mời công chứng viên đến nhà để có thể lập hợp đồng tặng cho ở nhà.
Như chúng tôi phân tích ở trên, trường hợp của bạn bố bạn hoàn toàn có quyền định đoạt tài sản của mình bằng di chúc hay bằng hợp đồng tặng cho tài sản đều không phải hỏi ý kiến của bà cả. Dù thế để đạt được mục đích thì bố bạn có thể áp dụng phương án tặng cho bạn bằng hợp đồng tặng cho tài sản.
Để được tư vấn cụ thể và chi tiết hơn bạn hãy gọi tới Hotline 0965 15 13 11 để được những luật sư của chúng tôi tư vấn.

Tranh chấp tài sản thừa kế

00:54 |
Bác trai có sở hữu một khu đất đã có quyền sử dụng đất. Theo mong muốn trước khi chết của bác trai tôi, vợ bác có mượn người viết di chúc chia cho tôi và 3 người con của bác tôi mỗi người một phần mảnh đất này, trong bản di chúc có chữ ký của vợ bác tôi và ba người con mặc dù vậy không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. 1 người con của bác tôi đã tiến hành việc chia tách và xin cấp sổ đỏ phần của họ được thừa hưởng mang bán. Những phần còn lại chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dù vậy đã có thông báo nộp thuế đất hàng năm cho mỗi người. Tôi đã xin cấp sổ đỏ phần đất tôi đứng tên mặc dù thế khi ra phường hỏi thì họ nói ngoài phường chưa có hồ sơ chia tách chính vì vậy chưa làm được quyền sử dụng đất. Hiện tại cả vợ chồng bác tôi và người viết di chúc đã qua đời, có tranh chấp đất xảy ra và không cho tôi được quyền thừa hưởng hưởng mảnh đất này thì tôi có quyền khiếu nại hay không?



Tư vấn lập di chúc http://oceanlaw.com.vn/di-chuc-thua-ke/

Trả lời:
Theo thông tin bạn kể trên thì di chúc được bác bạn để lại là di chúc bằng văn bản có người làm chứng. Đối với
Với di chúc bằng văn bản cần phải đáp ứng quy định về nội dung và hình thức theo Bộ luật Dân sự 2005.
Quy định của pháp luật Người làm chứng cho vấn đề lập di chúc
Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:
1. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo luật pháp của người lập di chúc
2. Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc
3. Người chưa đủ 18, người không có năng lực hành vi dân sự.
Quy định về di chúc bằng văn bản có người làm chứng
Với trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết bản di chúc thì có thể mượn người khác viết, dù thế phải có tối thiểu là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hay điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt người làm chứng; một vài người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.
Theo quy định đó thì khi người lập di chúc không thể tự mình lập di chúc thì có thể nhờ người khác viết, mặc dù vậy phải có ít nhất 2 người làm chứng. dù thế, người làm chứng ở đây phải không được là một trong một số người được quy định ở điều 654 Bộ luật Dân sự 2005. Đối với  trường hợp của bạn, người làm chứng ở đây là dì bạn và ba người con của dì bạn là một vài người thừa kế theo luật pháp của bác bạn theo quy định của pháp luật: “1. một vài người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;”
Vì vậy với hợp này, di chúc không đáp ứng điều kiện về người làm chứng chính vì thế không có hiệu lực luật pháp. Do đó, bạn sẽ không có quyền và nghĩa vụ trong khu đất này khi có tranh chấp xảy ra.
Hãy gọi điện tới Hotline 0965 15 13 11 - 0903 481 181 để giải đáp những thắc mắc liên quan.

Con dâu có được thừa kế di chúc của mẹ chồng khi ly hôn?

00:13 |


Con dâu là người đã xác lập quan hệ hôn nhân với con trai của người để lại di chúc thừa kế. Di chúc là sự thể hiện ý nguyện cuối cùng của cá nhân nhằm dịch chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Di chúc sẽ có hiệu lực pháp lý kể từ thời điểm người để lại di sản thừa kế qua đòi.
Con dâu là người có vị trí quan trọng trong gia đình, tất cả mọi công việc của nhà chồng, con dâu đều phải cùng chồng đảm đương, gánh vác, trách nhiệm hết. Tuy nhiên, khi bố mẹ chồng phân chia tài sản theo thừa kế theo di chúc hoặc phân chia tài sản thừa kế theo pháp luật thì lúc này con dâu trở thành người “dưng”. Mặc dù vậy, không phải lúc nào con dâu cũng bị phân biệt như thế.
Một số gia đình không có con gái, hay  có con gái đi lấy chồng xa. Họ thương con dâu như con đẻ bởi  con dâu là người gần gũi, trực tiếp chăm sóc bố mẹ lúc tuổi già.
Mặc dù con dâu không là phải người được hưởng thừa kế theo pháp luật từ bố, mẹ chồng tuy nhiên  con dâu được quyền hưởng thừa kế theo di chúc.. Bởi quyền để lại tài sản của mình cho ai là quyền của cá nhân, theo BLDS,  người lập di chúc có quyền “chỉ định người thừa kế”. Con dâu được hưởng thừa kế theo di chúc của bố mẹ chồng khi chia di sản thừa kế không có gì khó khăn.
Trong trường hợp gia đình, người cha đã mất, 2 ông bà có 1 người con trai, người con trai lấy vợ và sống cùng mẹ. Khi bà qua đời, bà đã để lại di chúc với nội dung như sau “để lại 1 căn nhà cho con dâu của tôi”. 


Tuy nhiên khi mở thừa kế thì lúc này con trai và con dâu của bà đã làm thủ tục ly hôn. Và con trai chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn với người khác, liệu rằng tại thời điểm mở di sản thừa kế thì cô không còn trong mối quan hệ hôn nhân với con bà, không còn là con dâu của bà. Thì có quyền được hưởng di sản thừa kế theo di chúc đó không? Việc đang là con dâu hoặc không còn là con dâu không quan trọng việc có được hưởng thừa kế theo di chúc. Mà quan trọng ở đây là nội dung và hình thức của bản di chúc. Nếu bản di chúc chỉ ghi là “để lại 1 căn nhà cho con dâu” thì về mặt nội dung di chúc chưa đúng theo quy định của pháp luật.
Theo Điều 653 BLDS 2005 nội dung bản di chúc phải ghi rõ: ngày, tháng, năm lập di chúc; họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc; họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ những điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức hưởng di sản; di sản để lại và nơi có di sản; việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ. Và di chúc không được viết tắt hay viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc. Vì thế, nội dung của di chúc trong ví dụ cụ thể kia không đúng, bởi người để lại di chúc cần phải viết cụ thể để lại thừa kế cho con dâu là ai, họ và tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người hưởng thừa kế. Di chúc có hiệu lực pháp lý khi đáp ứng những điều kiện về nội dung và hình thức pháp luật quy định thì mới được thừa nhận di chúc.
Mặc dù người con dâu ấy hiện tại không còn là con dâu, đã ly hôn, không còn mối quan hệ hôn nhân với con của người để lại di chúc và không còn mối quan hệ gia đình với người để lại di chúc nhưng vẫn được hưởng di sản thừa kế theo di chúc của người đã mất.